Home > Các chuyên đề  >  Chính sách - Pháp luật

Thỏa ước lao động tập thể và kỹ năng thương lượng

Nhằm cụ thể hóa nhiệm vụ nói trên, ngày 18/6/2009 Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã có Nghị quyết số 01/NQ-ĐCT về “Đổi mới, nâng cao chất lượng thương lượng, ký kết và thực hiện thỏa ước lao động tập thể”.

          Theo quy định tại điều 44 Bộ luật Lao động thì thoả ước lao động tập thể (TƯLĐTT) là văn bản thoả thuận giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động về các điều kiện lao động và sử dụng lao động, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động. Theo đó TƯLĐTT trước hết là một văn bản pháp lý thể hiện sự thoả thuận của các bên tham gia thương lượng và kết quả của quá trình thương lượng. Sự thương lượng, thoả thuận và ký kết TƯLĐTT mang tính chất tập thể, thông qua đại diện của tập thể lao động và người người sử dụng lao động (SDLĐ). Nội dung của TƯLĐTT chỉ giới hạn trong việc quy định những điều kiện lao động và SDLĐ, giải quyết các mối quan hệ lao động giữa người SDLĐ và người lao động. Từ khái niệm trên cho thấy TƯLĐTT có tác dụng như là một công cụ để cụ thể hoá các quy định của pháp luật phù hợp với tính chất đặc điểm của doanh nghiệp, làm cơ sở pháp lý để doanh nghiệp thực hiện việc giao kết hợp đồng lao động (HĐLĐ) với người lao động; tạo nên sự cộng đồng trách nhiệm giữa hai bên trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh trên sở cở pháp luật lao động; đồng thời là cơ sở pháp lý quan trọng bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các bên quan hệ lao động. Khi xây dựng TƯLĐTT các bên đều phải tuân thủ các nguyên tắc mang tính bắt buộc đó là tự nguyện, bình đẳng, công khai và đúng pháp luật. Trước hết phải xuất phát từ quyền lợi của phía mình mà các bên tự nguyện tham gia với tinh thần thiện chí, không có sự ép buộc nào giữa các bên hoặc sức ép từ phiá các bên; không được lấy thế mạnh về địa vị kinh tế hoặc lấy thế mạnh về lực lượng để gây áp lực, áp đặt cho phía bên kia mặc dù các bên đều có quyền thương lượng trên cơ sở những thế mạnh của mình; mọi nội dung thương lượng và cam kết thực hiện thì người lao động đều phải được biết, tham gia đóng góp ý kiến và những nội dung thỏa thuận không được trái với các quy định của Pháp luật, đồng thời phải phù hợp với thuần phong mỹ tục của người Việt Nam
 
Trong quá trình thương lượng, để bảo đảm quyền và lợi ích cho các bên, TƯLĐTT phải có 6 nội dung cơ bản. Thứ nhất là việc làm và bảo đảm việc làm, nội dung này đòi hỏi các bên phải thương lượng cụ thể, rõ ràng về các hình thức và thời hạn tiến hành giao kết HĐLĐ cho từng loại công việc, từng chức danh và cấp bậc thợ trong doanh nghiệp. Các nguyên tắc và chế độ cụ thể khi tuyển dụng, thay đổi nơi làm việc, nâng cao tay nghề, đào tạo lại, giao kết lại HĐLĐ. Những biện pháp bảo đảm việc làm, chế độ cho người lao động khi doanh nghiệp thu hẹp sản xuất hoặc sáp nhập, giải thể. Nội dung thứ hai là thời giờ làm việc, thời gian nghỉ ngơi, khi thương lượng các bên cần quy định cụ thể thời giờ làm việc tối đa cho từng bộ phận theo mùa khí hậu; nguyên tắc huy động và thời gian cho phép làm thêm giờ, kèm theo đó là đơn giá tiền lương làm thêm giờ. Bên cạnh đó là chế độ nghỉ hàng tuần, nghỉ ngày lễ, ngày tết, nghỉ việc riêng và nghỉ phép năm, cùng với đó là chế độ tiền lương trả cho họ khi vì công việc của doanh nghiệp mà họ không nghỉ phép năm hoặc nghỉ chưa hết số ngày được nghỉ. Nội dung thứ ba là tiền lương, tiền thưởng và phụ cấp lương, đây là nội dung rất quan trong đòi hỏi các bên phải thoả thuận rõ về mức tiền lương và phụ cấp lương cụ thể cho từng công việc phù hợp với khả năng của người lao động cũng như hiệu quả của doanh nghiệp. Đặc biệt là phải thoả thuận được mức lương tối thiểu, phương thức điều chỉnh tiền lương khi giá cả thị trường biến động hoặc Nhà nước thay đổi tiền lương tối thiểu chung; nguyên tắc nâng bậc lương, thời gian trả lương, nguyên tắc chi thưởng và mức thưởng cho từng loại công việc v.v. Nội dung thứ tư là định mức lao động, đây là vấn đề quyết định đến tiền lương và thu nhập của người lao động do vậy việc xác lập định mức lao động và đơn giá tiền lương phải phù hợp với từng loại công việc cũng như cấp bậc thợ trên cơ sở điều kiện thực tế về tính chất, mức độ phức tạp hay nặng nhọc của công việc, tính chuyên sâu hay được lặp đi lặp lại nhiều lần hay chỉ một lần của công việc. Nội dung thứ năm là vấn đề an toàn vệ sinh lao động, nội dung này phải có sự thoả thuận cụ thể về nội quy an toàn vệ sinh lao động và các quy định về công tác bảo hộ lao động, biện pháp cải thiện về điều kiện làm việc; chế độ đối với những người làm công việc có tính chất nặng nhọc, độc hại, chế độ bồi dưỡng sức khoẻ và trách nhiệm bội thường hoặc trợ cấp cho người lao động khi bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. Nội dung thứ sáu là bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, vần đề này các bên cần phải thoả thuận để quy định rõ trách nhiệm, quyền lợi của giám đốc doanh nghiệp và người lao động trong việc thực hiện nghĩa vụ đóng góp, thu nộp, chi trả các loại bảo hiểm, chế độ bảo hiểm mà người lao động được hưởng theo từng loại HĐLĐ. Ngoài các nội dung trên các bên có thể thoả thuận thêm những nội dung khác như: Phúc lợi tập thể, ăn giữa ca, hỗ trợ nhà ở hoặc tiền tàu xe, trợ cấp hiếu hỷ ...
Khi các bên đã thương lượng và ký kết, TƯLĐTT sẽ có hiệu lực ngay kể từ ngày ký hoặc từ ngày hai bên thoả thuận ghi trong thoả ước. TƯLĐTT sẽ có thời hạn từ 1 đến 3 năm, đối với doanh nghiệp ký lần đầu thì có thể ký dưới 1 năm. Khi TƯLĐTT đã có hiệu lực nếu quyền lợi của người lao động đã thoả thuận trong hợp đồng lao động thấp hơn so với TƯLĐTT thì phải thực hiện những điều khoản tương ứng trong TƯLĐTT, mọi quy định về lao động trong doanh nghiệp phải sửa đổi cho phù hợp với TƯLĐTT. Trong trường hợp hợp nhất, chia tách, sáp nhập doanh nghiệp thì TƯLĐTT tiếp tục được sử dụng khi số lao động được tiếp tục sử dụng chiếm trên 50%, các trường hợp khác các bên phải tiến hành thương lượng để ký kết TƯLĐTT mới trong thời gian 6 tháng. Trước khi thoả ước hết hệu lực, hai bên có thể thương lượng để kéo dài thời hạn hoặc ký kết TƯLĐTT mới. Khi TƯLĐTT hết hạn mà hai bên vẫn tiếp tục thương lượng thì thoả ước vẫn có hiệu lực, nếu quá 3 tháng, kể từ ngày thoả ước hết hạn mà thương lượng không thành thì TƯLĐTT đương nhiên hết hiệu lực
Để nội dung TƯLĐTT không bị xem là sao chép luật, đồng thời thỏa thuận được những vấn đề có lợi hơn cho người lao động, trong quá trình thương lương, các bên cần quan tâm tới một số kỹ năng. Thứ nhất là kỹ năng thu thập thông tin, đây là kỹ năng mà các bên phải xác định cần có những thông tin gì liên quan và hỗ trợ cho việc thương lượng, ví dụ: Khi thương lượng về tiền lương thì phải thu thập được các văn bản của nhà nước vê tiền lương, các số liệu về tiền lương của các đơn vị khác có cùng tính chất công việc hoặc số liệu sản xuất kinh doanh của đơn vị. Phải cân nhắc, lựa chọn những thông tin, số liệu thật chuẩn xác và có sức thuyết phục cao nhất để sử dụng. Thứ hai là kỹ năng xác định mục tiêu, chỉ tiêu cần thoả thuận khi thương lương, đây là vấn đề mà các bên cần thực hiện trên nguyên tắc bảo đảm được lợi ích cơ bản cho người lao động với mức cao hơn hoặc bằng mức quy định của pháp luật, đáp ứng được lợi ích chính đáng của hai bên, đồng thời không làm tổn hại đến quan hệ hai bên dù nội dung thương lượng đạt hay có thể chưa đạt được kết quả như mong muốn. Thứ ba là kỹ năng tổ chức lấy ý kiến tập thể người lao động, theo đó người chủ tọa phải biết cách tổ chức lấy ý kiến, biết cách thuyết phục, dẫn dắt dư luận, thái độ của tập thể người lao động để tạo được sự đồng thuận. Thứ tư là kỹ năng tổ chức cuộc thương lượng, đây là vấn đề rất quan trọng đòi hỏi các bên phải chủ động xây dựng kế hoạch, nội dụng chương trình cho cuộc thương lượng, thiết lập các nguyên tắc thương lượng, xác định thành phần tham gia thương lượng và hình thức thương lượng, cách phối hợp điều hành thương lượng cũng như cách thức ghi chép biên bản cuộc thương lượng. Quá trình thương lượng phải tìm hiểu và nắm rõ tâm lý, tư tưởng, quan điểm và tính cách của đối tác để từ đó định hình cho mình phong thái, thủ thuật, tác động đến đối tác trong quá trình thương lượng, đồng thời phải xử lý nhanh những bế tắc đối với các nội dung trong khi thương lượng.
Trong những năm gần đây khi Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới thì tình tình tranh chấp lao động dẫn tới đình công không đúng với các quy định của Pháp luật có chiều hướng gia tăng kể cả về số lượng cũng như quy mô và địa giới hành chính. Để hạn chế tình hình tranh chấp lao động các cấp Công đoàn trên địa bàn phải chủ động cùng với chủ doanh nghiệp thương lượng, ký kết và thực hiện tốt TƯLĐTT – có như vậy mới xây dựng được mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp theo tinh thần Chỉ thị số 22/CT-TW ngày 05/6/2008 của Ban Bí thư TW Đảng (khóa X).

Vũ Duy Hoàng - P.Chủ tịch LĐLĐ tỉnh TN


Các bài mới:
Các bài khác: