Home > Gương CNVCLĐ tiêu biểu

Quá trình hình thành, phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam và sự ra đời của Công hội đỏ

Quá trình hình thành, phát triển của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam luôn gắn liền với những chặng đường lịch sử vẻ vang của dân tộc. Trải qua các thời kỳ lịch sử vẻ vang của cách mạng Việt Nam trong đấu tranh giành độc lập dân tộc cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam luôn là lực lượng nòng cốt đi đầu cùng với nhân dân cả nước viết lên trang sử vẻ vang, truyền thống hào hùng của dân tộc, xứng đáng là giai cấp tiên phong, lãnh đạo trong mọi thời kỳ của cách mạng.

Vì vậy, học tập, nghiên cứu và tìm hiểu để nâng cao nhận thức, hiểu biết lịch sử hình thành, phát triển cũng như thành tựu và truyền thống đấu tranh anh dũng của giai cấp công nhân và Công đoàn Việt Nam trong hơn 85 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng là trách nhiệm của công nhân lao động Việt Nam mà quan trọng hơn là mỗi người công nhân lao động ra sức phấn đấu góp phần giữa vững, kế thừa và phát huy những thành tựu và truyền thống để xây dựng giai cấp công nhân và Công đoàn Việt Nam ngày càng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là lực lượng nòng cốt đi đầu trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nhân hóa hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiền phong của nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam.

1. Sự hình thành giai cấp công nhân Việt Nam.

Vào cuối thế kỷ thứ 19, sau khi cơ bản hoàn than quá trình xâm lược nước ta thực dân Pháp tiến hành thực hiện kế hoạch khai thác thuộc địa ở Việt Nam, dưới tác động của những cuộc khai thác thuộc địa giai cấp công nhân ở nước ta đã ra đời. Trước hết, thực dân Pháp tập trung vào phát triển ngành khai thác mỏ, hàng ngàn nông dân bị bần cùng hóa may mắn được trở thành “thợ” mỏ làm việc trong các mỏ khai thác than, thiếc… Tuy chưa phải công nhân hiện đại, sản xuất trong dây chuyền công nghiệp nhưng đây là mầm mống để phát triển hình thành giai cấp công nhân Việt Nam. Đẩy nhanh quá trình khai thác thuộc địa, nhiều khu công nghiệp được xây dựng tập trung ở Hà nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Nam Định, Vinh – Bến Thủy, Hòn Gai đã làm cho số công nhân tăng nhanh…. Số lượng công nhân năm 1906 gần 5 vạn người trong đó có 1.800 thợ chuyên môn. Nhiều xí nghiệp tập trung đông công nhân như: Xi măng Hải phòng có 1.500 người, 4 nhà máy dệt ở Nam Định, Hải Phòng, Hà Nội cũng có 1.800 người, các nhà máy xay xát ở Sài Gòn có tới 3.000 người, riêng trên các tuyến đường sắt Vân Nam – Hải Phòng đã thu hút tới 6 vạn người, ngành mỏ (năm 1914) có tới 4.000 thợ, đó là chưa kể số “thợ theo mùa”. Tổng công nhân Việt Nam tính đến trước chiến tranh thế giới lần thứ I có khoảng 10 vạn người.

Sau chiến tranh thế giới lần thứ I kết thúc, thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ II (1919-1929) nhằm tăng cường vơ vét, bóc lột nhân dân thuộc địa để bù đắp những tổn thất trong chiến tranh. Sự phát triển của một số ngành công nghiệp khai khoáng, dệt, giao thông vận tải…. dẫn đến số lượng công nhân tăng nhanh, công nhân mỏ và công nhân đồn điền nhiều nơi tập trung hàng vạn người. Ở các thành phố, nhiều nhà máy đã có trên 1.000 công nhân như nhà máy Xi măng Hải Phòng, nhà máy Dệt Nam Định.

Đến cuối năm 1929, tổng số công nhân làm việc trong các doanh nghiệp của tư bản Pháp là hơn 22 vạn người, trong đó có 5,3 vạn thợ mỏ, 8,6 vạn công nhân các ngành công thương nghiệp. Đó là chưa kể đến những người lao động làm việc ở xí nghiệp thủ công lớn, nhỏ, thợ may, thợ giặt, bồi bếp….

Như vậy cùng với công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp dẫn tới sự ra đời tất yếu khách quan của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam. Và, đó cũng là điều kiện cơ bản làm xuất hiện một giai cấp mới – giai cấp công nhân Việt Nam với những đặc điểm sau:

Một là, giai cấp công nhân Việt Nam chủ yếu xuất thân từ nông dân, do bị bần cùng hóa trong quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp nên có sẵn mối quan hệ tự nhiên với nông dân và nhân dân lao động. Đây là điều kiện thuận lợi để giai cấp công nhân xây dựng và thiết lập khối liên minh công nông và là nòng cốt của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhằm chống lại kẻ thù chung là thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai để giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội,,,

Hai là, giai cấp công nhân Việt Nam sinh ra và lớn lên được thừa hưởng truyền thống đấu tranh anh dũng và bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc; Là giai cấp bị bóc lột nặng nề cùng với nỗi nhục mất nước, nên có điều kiện và cơ sở để liên minh với nhân dân và các giai cấp, các tầng lớp khác trong xã hội (trước hết là nông dân) để chống lại ách áp bức của giai cấp tư sản và thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập dân tộc. Như vậy lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp kết hợp làm một, khiến động cơ cách mạng cũng như nghị lực và tính cách mạng triệt để của giai cấp công nhân Việt Nam được nhân lên gấp bội.

Ba là, giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản Việt Nam, trong khi thế giới giai cấp công nhân ra đời sau giai cấp tư sản.

Bốn là, giai cấp công nhân Việt Nam phải chịu 3 tầng áp bức bóc lột là địa chủ, phong kiến, tay sai, của giai cấp tư sản mại bản và của chủ nghĩa đế quốc. Với ba tầng áp bức nặng nề này đã làm cho đời sống công nhân Việt Nam vô cùng cực khổ, so với giai cấp công nhân thế giới, bởi giai cấp công nhân ở các nước tư bản phát triển họ chỉ phải chịu một tầng áp bức của giai cấp tư sản mà thôi. Chính đặc điểm này đã làm sâu sắc hơn tinh thần cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam thúc đẩy họ luôn sẵn sàng đứng lên đấu tranh.

Năm là, trong giai cấp công nhân Việt Nam không có bộ phận công nhân quý tộc, họ thuần nhất chỉ là người lao động trong các ngành công nghiệp của thực dân pháp. Đây là điều kiện thuận lợi để xây dựng tinh thần đoàn kết của giai cấp công nhân và đoàn kết dân tộc…

Sáu là, giai cấp công nhân Việt Nam bước lên vũ đài chính trị trong điều kiện tình hình thế giới cũng như phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế đang phát triển mạnh mẽ. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, sự ra đời của Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) đã cổ vũ và giúp đỡ về nhiều mặt, để giai cấp công nhân Việt Nam vươn lên đảm nhận lấy sứ mệnh lịch sử của mình lãnh đạo cách mạng…

Tất cả những đặc điểm và hoàn cảnh đó đã hội tụ lại đầy đủ, đưa giai cấp công nhân Việt Nam lên địa vị lịch sử và là giai cấp duy nhất có khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Chính trong lúc này Chủ nghĩa Mác – Lênin và các tài liệu tuyên truyền của Nguyễn Ái Quốc gửi về được giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam đón nhận như “người đi đường đang khát mà có nước uống, đang đói mà có cơm ăn”. Nó lôi cuốn những người yêu nước Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản; làm dấy lên cao trào đấu tranh mạnh mẽ, sôi nổi khắp cả nước, trong đó giai cấp công nhân ngày càng trở thành một lực lượng chính trị độc lập. Sự phát triển mạnh mẽ các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân trong cả nước, đòi hỏi phải có tổ chức đảng chính trị lãnh đạo. Vì vậy, các tổ chức cộng sản ở Việt Nam lần lượt được thành lập:

Từ khi chủ nghĩa Mác – Lênin được truyền bá vào Việt Nam số lượng các cuộc bãi công ngày một tăng, có tổ chức lãnh đạo. Nếu như năm 1927 có 7 cuộc bãi công thì đến năm 1929 đã có đến 24 cuộc, năm 1930 là 30 cuộc với số lượng người tham gia lên đến ngót 32.000 người. Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân và phong trào yêu nước từ năm 1925 đến năm 1929 là một điều kiện quyết định sự ra đời các tổ chức Cộng sản và Công hội Đỏ ở Việt Nam, đặc biệt là sự ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam vào đầu năm 1930.

2. Sự hình thành các tổ chức Công hội sơ khai ở Việt Nam.

Trước sự bóc lột nặng nề và đàn áp dã man của thực dân Pháp, giai cấp công nhân và lao động nước ta đã tự nguyện lập ra các nghiệp đoàn, công hội đấu tranh để bảo vệ quyền lợi cho mình. Năm 1920, đồng chí Tôn Đức Thắng – người công nhân ưu tú của Nam bộ - đã bắt tay vào cuộc vận động thành lập Công hội Ba Son. Mục đích của hội là: Đấu tranh bênh vực quyền lợi của công nhân, chống đế quốc tư bản. Công hội Đỏ đã trở thành linh hồn của phong trào bãi công của công nhân Ba Son, Sài Gòn – Chợ Lớn vào những năm 1920 – 1925, mà điển hình là cuộc bãi công của công nhân Ba Son tháng 8 năm 1925. Cuộc bãi công này ủng hộ cuộc đấu tranh của công nhân Thượng Hải, Trung Quốc. Đây là cuộc đấu tranh đầu tiên của công nhân ta mang tính chính trị quốc tế, tạo cơ sở xã hội cho việc thành lập công đoàn cách mạng về sau.

Ngoài tổ chức Công hội Đỏ do đồng chí Tôn Đức Thắng sáng lập, còn có Liên đoàn công nhân lái tàu trên các bến Viễn Đông (gọi tắt là Hải viên công hội). Tôn chỉ, mục đích của hội là “Mưu lợi ích và giúp đỡ anh em lao động Hải viên, đòi những điều kiện cần thiết cho anh em lao động Hải viên, đoàn kết toàn thể anh chị em lao động”. Hải viên công hội đã thu hút phần lớn các thủy thủ Việt Nam làm trên những con tàu Pháp qua Việt Nam, Trung Quốc và một số nước khác. Trong khoảng những năm 1922, trên tàu biển của hãng hàng hải Pháp có hàng nghìn thủy thủ Việt Nam tổ chức ra Hội ái hữu để tương trợ giúp đỡ nhau khi xa quên hương. Thủy thủ người Pháp và người Việt Nam trên các con tàu chạy từ Pháp đến Việt Nam đã liên lạc với một bộ phận công nhân Việt Nam trên đất liền Sài Gòn – Chợ Lớn. Trong cuộc mít tinh chào mừng thắng lợi đấu tranh của thủy thủ trên 8 tàu buôn Pháp đậu tại Cảng Sài Gòn năm 1922 đã nêu khẩu hiệu “Công đoàn muôn năm”, công nhân lao động tại Sài Gòn – Chợ Lớn đã hưởng ứng khẩu hiệu đó và cùng nhau bí mật tổ chức ra Hội tương tế, ái hữu của mình. Khác với công đoàn ở các nước dân chủ tư sản, các tổ chức công đoàn sơ khai ở Việt Nam ngay từ khi ra đời đã phải hoạt động bí mật. Song, bằng nhiều biện pháp khôn khéo các tổ chức này đã gắn bó mật thiết với công nhân, lao động góp phần rút ngắn giai đoạn đấu tranh “tự phát” của phong trào công nhân Việt Nam.

3. Thành lập Công hội đỏ Bắc kỳ - tổ chức tiền thân của Công đoàn VN

Quá trình hình thành phát triển của Công Hội đỏ Bắc kỳ gắn liền với hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong những thập niên đầu thế kỷ XX, Người đã đặt nền móng cơ sở lý luận cho sự ra đời của các tổ chức quần chúng của giai cấp công nhân Việt Nam. Từ năm 1914 đến năm 1917, Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Luân Đôn tham gia công đoàn hải ngoại Anh; cuối năm 1917, Người trờ về Pháp, tham gia Đảng xã hội Pháp và là đoàn viên của công đoàn Kim khí Pháp; năm 1919, người đã hướng dẫn cho công nhân lao động Việt Nam trên các tầu của Pháp thành lập công đoàn thủy thủ Việt Nam tại Mác-xây.

Tháng 6/1925, Nguyễn Ái Quốc sáng lập tổ chức Hội Việt Nam thanh niên cách mạng ở Quảng Châu – Trung Quốc và trực tiếp giảng dậy lý luận chính trị nhằm nâng cao nhận thức chính trị cho các hội viên. Trong cuốn “Đường cách mệnh” có nói đến tính chất nhiệm vụ của Công hội: “Tổ chức công hội trước hết là để công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình, hai là để nghiên cứu với nhau, ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ, bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân, năm là để giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới”. Như vậy, có thể thấy trên bước đường đi tới chủ nghĩa Mác-Lênin, tiến tới thành lập tổ chức Đảng Cộng sản ở Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã quan tâm rất sớm đến việc thành lập tổ chức quần chúng của giai cấp công nhân. Đây là quá trình Người chuẩn bị đầy đủ về tư tưởng và tổ chức cho sự thành lập Đảng và cũng là quá trình Người xây dựng cơ sở lý luận cùng các biện pháp tổ chức công đoàn cách mạng Việt Nam.

4. Đại hội thành lập Tổng công hội Đỏ miền Bắc Việt Nam.

Sau khi được học tập lý luận chính trị, hầu hết các hội viên của Hội Việt Nam thanh niên cách mạng đã trở về nước hoạt động đi sâu vào các nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ, các khu công nghiệp, để tuyên truyền vận động công nhân lao động phát triển những hội quần chúng như hội Hiếu hỉ, hội Tương tế, hội Ái hữu …, từ đó tiến tới thành lập công hội.

Từ năm 1925-1928, nhiều công hội bí mật đã hình thành, kỳ bộ Bắc kỳ của hội Việt Nam cách mạng thanh niên phát động phong trào “Vô sản hóa”, phong trào đấu tranh của công nhân Việt Nam ngày càng phát triển sôi nổi, đã thúc đẩy tổ chức công hội phát triển cả về hình thức lẫn nội dung hoạt động và trở thành tổ chức công đoàn cách mạng của giai cấp công nhân. Tại các khu công nghiệp thuộc các tỉnh miền Bắc, nhiều xí nghiệp đã có công hội như: nhà máy Diêm, hãng sửa chữa ôtô Aviát (Hà Nội), nhà máy Sợi (Nam Định), nhà máy xi măng (Hải Phòng)… Công nhân làm việc ở các bến tàu, nhà ga cũng có tổ chức công hội. Ở miền Nam, tổ chức công hội cũng đã hình thành và hoạt động, chủ yếu ở các khu công nghiệp Sài Gòn – Chợ Lớn và các đồn điền cao su. Năm 1929, phong trào công nhân và hoạt động công hội ở nước ta phát triền mạnh mẽ và sôi nổi, đặc biệt là miền Bắc. Các cuộc đấu tranh của công nhân nổ ra liên tục ở nhiều xí nghiệp, có sự phối hợp chặt chẽ và thống nhất hành động giữa các cuộc đấu tranh ở xí nghiệp này với xí nghiệp khác trong cùng một địa phương, giữa các địa phương này với địa phương khác trong toàn xứ, kết hợp với phong trào đáu tranh chống thuế của nông dân, bãi thị của tiểu thương, bãi khóa của học sinh.

Tháng 3 năm 1929 chi bộ Cộng sản đầu tiên được thành lập ở Hà Nội, ngày 17/6/1929, Đông Dương cộng sản Đảng ra đời và chủ trương lấy phong trào công nhân làm nòng cốt cho phong trào cách mạng, lấy việc vận động công nhân là trọng tâm công tác của Đảng, Đảng đã cử ra hàng loạt cán bộ vào nhà máy, hầm mỏ, nắm các công hội do Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã lập từ trước để tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản, phổ biến tôn chỉ, mục đích Điều lệ của công hội đỏ, chọn lọc những quần chúng tích cực kết nạp vào Công hội đỏ. Nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác vận động công nhân tăng cường sự thống nhất về tổ chức và hành động của tổ chức công hội. Ban chấp hành Trong ương lâm thời Đông Dương Cộng sản đảng quyết định tổ chức Hội nghị đại biểu Tổng Công hội đỏ Bắc kỳ lần thứ I ngày 28/7/1929. Hội nghị được tổ chức tại trụ sở Tổng công hội Bắc kỳ, số nhà 15 phố Hàng Nón – Hà Nội. Tham dự Đại hội có các đại biểu các Tổng công hội tỉnh và thành phố: Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng, khu mỏ Đông Triều, Mạo Khê. Riêng Tổng Công hội Đáp cầu và Yên viên do hoàn cảnh đặc biệt không đến dự Đại hội được những đã có thư ủy nhiệm cho Ban Trị sự Đại hội.

Đại hội đã thông qua chương trình, Điều lệ và bầu Ban chấp hành Trung ương lâm thời Tổng Công hội Đỏ do đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, ủy viên Ban chấp hành Trung ương lâm thời Đông Dương cộng sản Đảng đứng đầu. Đại hội đã quyết định cho xuất bản tờ Lao động là cơ quan lý luận, truyền bá quan điểm, chủ trương công tác của Công hội Đỏ trong công nhân (số đầu tiên ra ngày 14/8/1929 do chính đồng chí Nguyễn Đức Cảnh phụ trách).

Sau Đại hội, Tổng Công hội Đỏ tiếp tục tuyên truyền, vận động, phát triển tổ chức ở miền Trung và miền Nam, việc thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc kỳ có ý nghĩa hết sức to lớn đối với phong trào công nhân Việt Nam. Đó vừa là kết quả tất yếu của sự trưởng thành về chất lượng của phong trào công nhân nước ta, vừa là thắng lợi của đường lối vận động công nhân của Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng Sản Đông Dương, đồng thời đáp ứng nhu cầu cấp thiết về tổ chức của phong trào công nhân Việt Nam. Việc thành lập tổ chức công đoàn đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam góp phần vào sự phát triển lớn mạnh của phong trào cộng sản công nhân quốc tế. Mối quan hệ giữa phong trào công nhân Việt Nam với phong trào công nhân thế giới, đặc biệt là với công nhân và công đoàn Pháp đã được công hội đỏ thiết lập. Như vậy, Công đoàn Việt Nam ngay từ khi ra đời đã là tổ chức Công đoàn cách mạng, tuyệt đối tin tưởng và trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng.

BBT

Các bài mới:
Các bài khác: