Home > Các chuyên đề  >  Tuyên giáo

Những điểm mới của Luật Công đoàn, Luật Lao động (sửa đổi) 2012

Giới thiệu Luật Công đoàn (sửa đổi) 2012    

Luật Công đoàn (sửa đổi) được Quốc hội khoá XIII thông qua tại kỳ họp thứ 3, ngày 20 tháng 6 năm 2012 với 90,18% đại biểu tán thành. Ngày 02/7/2012, Chủ tịch nước đã ban hành Lệnh số 10/2012/L-CTN công bố Luật Công đoàn. Luật Công đoàn (sửa đổi) có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2013.

Luật Công đoàn (sửa đổi) 2012 nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật Công đoàn 1990, đáp ứng hoạt động của tổ chức Công đoàn trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế. Đồng thời Luật Công đoàn (sửa đổi) nhằm kịp thời thể chế hoá các quan điểm, đường lối của Đảng về hoàn thiện, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/1/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khoá X về: “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. Trên cơ sở đó, bảo đảm và phát huy vai trò đặc biệt quan trọng của Công đoàn trong thời kỳ mới, góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội của đất nước.

Luật Công đoàn sửa đổi được kết cấu gồm 6 chương, 33 điều Luật.

Trong đó, giữ bốn chương của Luật Công đoàn hiện hành, bổ sung thêm 2 chương mới: chương III “Trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đối với Công đoàn” và chương V “Giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm pháp luật về công đoàn”; tăng 14 điều Luật

Chương I. Những quy định chung

Xuất phát và kế thừa địa vị pháp lý của Công đoàn theo thể chế chính trị của xã hội Việt Nam đã được xác định, quy định tại điều 10 của Hiến pháp và tại điều 1, điều 2 của Luật công đoàn 1990, Luật Công đoàn lần này tiếp tục khẳng định Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và người lao động, là thành viên trong hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng; có chức năng đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân lao động, cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình đọ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 Đây là quy định đặc biệt quan trọng trong Luật Công đoàn để tạo cơ sở thống nhất, nền tảng quy định cụ thể các quyền và trách nhiệm theo lĩnh vực hoạt động của Công đoàn tại chương tiếp theo, tạo hành lang pháp lý cho Công đoàn thực hiện tốt các chức năng Luật định.

Chương I còn bổ sung điều mới về: “Giải thích từ ngữ” và “Hệ thống tổ chức Công đoàn”. đặc biệt đã luật hoá chức danh Cán bộ công đoàn không chuyên trách từ Tổ phó tổ công đoàn trở lên, tạo nền tảng mở rộng quyền được bảo đảm điều kiện hoạt động công đoàn quy định tại chương IV.

Một điểm mới trong Chương này là đã xác định những hành vi bị nghiêm cấm liên quan đến việc cản trở thành lập và hoạt động công đoàn; phân biệt đối xử với người lao động, cán bộ công đoàn, can thiệp vào tổ chức và hoạt động công đoàn; đồng thời quy định bổ sung thêm hành vi bị nghiêm cấm liên quan lợi dụng quyền công đoàn để vi phạm pháp luật, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, cá nhân nhằm bảo đảm thêm sự bình đẳng trong chấp hành pháp luật công đoàn của các đối tượng áp dụng Luật.

Chương II. Quyền, trách nhiệm của Công đoàn và đoàn viên công đoàn

Chương này là một trong những chương quan trọng nhất của Luật, quy định cụ thể các quyền và trách nhiệm theo từng lĩnh vực hoạt động của Công đoàn trên cơ sở chức năng của Công đoàn đã được Hiến định và xác định, quy định tại điều 1 của Luật; đồng thời luật hoá từ Điều lệ công đoàn các quyền và trách nhiệm của đoàn viên công đoàn theo yêu cầu của Quốc hội

Chương II. Quyền, trách nhiệm của Công đoàn và đoàn viên công đoàn cũng đã quy định cụ thể thêm quyền, trách nhiệm phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở; quy định tăng thêm trách nhiệm của Công đoàn cấp trên cơ sở trong việc tiếp cận doanh nghiệp để tuyên truyền, vận động, hướng dẫn thành lập công đoàn cơ sở, hỗ trợ giải quyết những khó khăn, hạn chế hiện nay của Công đoàn cơ sở. Đặc biệt quan trọng là quy định trách nhiệm của Công đoàn cấp trên cơ sở trong việc đại diện, bảo vệ quyền lợi cho người lao động ở các đơn vị, doanh nghiệp chưa thành lập công đoàn. Thông qua đó tạo hành lang pháp lý vững chắc cho Công đoàn cấp trên cơ sở chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết để từng bước thực hiện tốt trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

Chương III. Trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đối với Công đoàn

Luật Công đoàn 1990 đã có một số quy định trách nhiệm của Cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị đối với Công đoàn liên quan đến việc tôn trọng quyền độc lập về tổ chức và các quyền khác của Công đoàn, tạo điều kiện cần thiết cho Công đoàn thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mỗi bên. Tuy nhiên, một số lĩnh vực thuộc trách nhiệm của cơ quan Nhà nước và một số lĩnh vực thuộc trách nhiệm của đơn vị, doanh nghiệp liên quan đến hợp tác, phối hợp với Công đoàn chưa được qui định rõ ràng làm ảnh hưởng đến hiệu lực thi hành của Luật và hiệu quả hoạt động của Công đoàn.

Để giải quyết tồn tại, hạn chế trên, chương III quy định rõ thêm trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp đối với hoạt động Công đoàn. Trong đó, xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong lĩnh vực tuyên truyền, phổ biến pháp luật, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật công đoàn; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong hợp tác, tạo điều kiện, bảo đảm điều kiện hoạt động của công đoàn cơ sở, của cán bộ công đoàn và đặc biệt là phải có nghĩa vụ đóng kinh phí công đoàn theo quy định của Luật này.

Chương IV. Những bảo đảm hoạt động của Công đoàn

Chương IV xác định có tính nguyên tắc việc bảo đảm về tổ chức và số lượng cán bộ công chức để thực hiện chức năng, quyền và trách nhiệm của Công đoàn.

Bổ sung và mở rộng quy định về thời gian tối thiểu cho hoạt động công đoàn đối với cán bộ Công đoàn không chuyên trách tại cơ sở. Ngoài cán bộ Công đoàn có chức danh Chủ tịch, Phó chủ tịch công đoàn cơ sở, Uỷ viên BCH, cán bộ công đoàn có chức danh Tổ trưởng, Tổ phó công đoàn được sử dụng thời gian trong giờ làm việc 12 giờ trong một tháng do doanh nghiệp trả lương, để hoạt động công đoàn. Tổ trưởng, Tổ phó công đoàn là những người liên quan chủ yếu và trực tiếp đến tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của Công đoàn tại cơ sở. Qui định mới này hết sức cần thiết, đồng thời nâng cao thêm trách nhiệm của đơn vị, doanh nghiệp đối với tổ chức Công đoàn.

Bổ sung quy định về quyền lợi của cán bộ công đoàn không chuyên trách do cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trả lương, được hưởng phụ cấp hoạt động công đoàn và khoản phụ cấp này được thực hiện theo quy định cụ thể của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

Bổ sung quy định bảo vệ cán bộ công đoàn về việc làm. Theo đó, cán bộ công đoàn không chuyên trách được gia hạn hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc theo nhiệm kỳ tham gia Ban chấp hành công đoàn cơ sở; đơn vị sử dụng lao động không được tự ý chấm dứt hợp đồng hoặc thuyên chuyển công tác cán bộ công đoàn không chuyên trách nếu không có sự thoả thuận của công đoàn.

Bảo đảm về tài chính công đoàn là một nội dung quan trọng trong Chương IV. Vấn đề tài chính công đoàn được Luật Công đoàn 1990 quy định mang tính nguyên tắc, không quy định cụ thể mà giao cho Chính phủ, Bộ, ngành quy định dưới hình thức Nghị định và Thông tư nên giá trị pháp lý và hiệu lực không cao, làm ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động của công đoàn trong quá trình tổ chức thực hiện các quyền, trách nhiệm theo Luật định; đặc biệt là những bất cập liên quan đến đối tượng đóng kinh phí công đoàn thiếu bình đẳng, mức đóng, nền đóng chưa thống nhất. Nhằm giải quyết bất cập trên, Luật Công đoàn (sửa đổi) 2012 đã quy định tất cả các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế không phân biệt nơi đã thành lập hay chưa thành lập công đoàn, đều phải có nghĩa vụ đóng kinh phí công đoàn bằng 2% tính trên quỹ tiền lương làm căn cứ đóng BHXH cho người lao động.

Nhằm bảo đảm nguyên tắc quản lý tài chính công đoàn, tính minh bạch và tăng cường công tác quản lý tài chính của Công đoàn vừa theo pháp luật, vừa bảo đảm tính độc lập của Công đoàn, Luật xác định rõ các nội dung chi và quy định Công đoàn thực hiện quản lý, sử dụng và kiểm tra tài chính công đoàn theo quy định của pháp luật và quy định của Tổng Liên đoàn lao động VN; cơ quan nhà nước có thẩm quyền giám sát, kiểm tra, kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính công đoàn. 

 Chương V. Giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm pháp luật công đoàn

Chương này quy định hai nội dung mới liên quan đến việc xác định nguyên tắc giải quyết tranh chấp về quyền công đoàn, xử lý vi phạm pháp luật về công đoàn và trách nhiệm của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước thông qua việc ban hành văn bản pháp luật quy định chi tiết việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật về công đoàn.

Chương VI. Điều khoản thi hành

Xác định hiệu lực thi hành của Luật từ ngày 01 tháng 01 năm 2013;

Giao Chính phủ có trách nhiệm thống nhất với Tổng Liên đoàn lao động VN quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều, khoản được giao trong Luật. Theo đó, Tổng Liên đoàn dự kiến sẽ đề nghị với Chính phủ thống nhất xây dựng và ban hành các Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành:

1) Về quyền và trách nhiệm của công đoàn (Điều 10, Điều 11)

2) Về tài chính công đoàn (Điều 26)

3) Về xử phạt hành chính hành vi vi phạm pháp luật về công đoàn (Điều 31)

 

 

Những nội dung mới của Bộ luật Lao động (sửa đổi)    

 

Bộ luật Lao động (sửa đổi) đã được Quốc hội khoá XIII thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012, có hiệu lực từ 1/5/2013. Bộ luật lao động (sửa đổi) gồm 17 chương, 242 điều, tăng 19 điều so với Bộ luật Lao động hiện hành (223 điều). Trang Thông tin điện tử TLĐ xin giới thiệu một số nội dung mới của Luật này.

 Chương I. Những quy định chung (gồm 8 điều, từ điều 1 đến điều 8)

Chương này cơ bản vẫn giữ nguyên phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng. Tuy nhiên, Chương I bổ sung thêm Điều 3 giải thích từ ngữ, trong đó đưa ra khái niệm về quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng, trả lương giữa người lao động và người sử dụng lao động” (khoản 6 Điều 3) và Cưỡng bức lao động“việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác nhằm buộc người khác lao động trái ý muốn của họ” (khoản 10 Điều 3).

Một điểm mới trong Chương I là việc ghi nhận quyền đóng cửa tạm thời doanh nghiệp, quyền gia nhập hoạt động trong tổ chức nghề nghiệp của người sử dụng lao động; bổ sung các hành vi bị nghiêm cấm cho phù hợp với các qui định của Công ước quốc tế về lao động mà Việt Nam đã phê chuẩn như cấm lao động cưỡng bức.

Chương II. Việc làm (6 điều từ Điều 9 đến Điều 14)

Quy định về việc làm, giải quyết việc làm, quyền làm việc của người lao động, quyền tuyển chọn lao động của người sử dụng lao động, chính sách của Nhà nước hỗ trợ phát triển việc làm và tổ chức dịch vụ việc làm. Điểm mới của chương này là bổ sung thêm các quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc tham gia giải quyết việc làm

Chương III. Hợp đồng lao động

Chương III có 5 mục 44 điều (từ điều 15 đến điều 58)

Về mức thời gian của hợp đồng lao động xác định thời hạn Điểm b, khoản 1, Điều 22 quy định: “Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.”.

Chương III đã quy định cụ thể những hành vi mà người sử dụng lao động không được làm khi gia kết, thực hiện hợp đồng lao động; các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động; cụ thể hoá cách tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm; bỏ Quỹ dự phòng mất việc làm.

Một điểm mới nữa trong Chương III là việc qui định tăng mức tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc “ít nhất phải bằng 85% ” so với 70% của qui định của Bộ luật Lao động hiện hành.

Một điểm mới quan trọng của Chương III là bổ sung 1 mục mới (Mục V) về lao động cho thuê để điều chỉnh hoạt động này đã diễn ra thực tế.

Chương V. Đối thoại tại nơi làm việc, thương lượng tập thể, thoả ước lao động tập thể

Chương này có 5 mục, 27 điều, từ điều 63 đến điều 89.

Chương này được sửa đổi theo hướng: quy định cụ thể hơn về tăng cường thực hiện quy chế dân chủ, tại nơi làm việc để bảo đảm quá trình thực hiện đối thoại, thương lượng, đồng thời cũng làm căn cứ để Chính phủ ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện quy chế dân chủ trong các loại hình doanh nghiệp, hợp tác xã; thúc đẩy và phát huy tối đa sự thoả thuận, thương lượng để xác lập điều kiện lao động mới .

Điểm mới đáng quan tâm của Chương V là việc bổ sung một mục riêng về đối thoại tại nơi làm việc. Khoản 2 và khoản 3 Điều 63 quy định về mục đích và hình thức đối thoại tại nơi làm việc như sau:

“2. Đối thoại tại nơi làm việc được thực hiện thông qua việc trao đổi trực tiếp giữa người lao động và người sử dụng lao động hoặc giữa đại diện tập thể lao động với người sử dụng lao động và bảo đảm việc thực hiện quy chế dân chủ ở sở.

3. Người sử dụng lao động, người lao động có nghĩa vụ thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong doanh nghiệp, tại nơi làm việc theo quy định của Chính phủ”.

Chương V bổ sung một mục riêng về Thương lượng tập thể, trong đó quy định về mục đích, nguyên tắc, nội dung, quy trình thương lượng tập thể; không quy định cứng nhắc về nội dung của thỏa ước lao động tập thể.

Đặc biệt, Chương V đã quy định 1 mục mới (Mục IV) về thỏa ước lao động tập thể ngành để thiết lập và thống nhất hóa những tiêu chuẩn lao động và trách nhiệm xã hội chủ yếu, cải thiện những điều kiện lao động có thể áp dụng chung trong ngành, đặc biệt là thương lượng và thỏa thuận về mức lương tối thiểu ngành mà Chính phủ không qui định. Nếu có thỏa ước ngành, các doanh nghiệp trong ngành sẽ phải áp dụng và chỉ khi có điều kiện thuận lợi hơn mới cần thương lượng và ký thỏa thuận doanh nghiệp.

Chương VI. Tiền lương (14 điều, từ Điều 90 đến Điều 103)

Những sửa đổi của chương này dựa trên các nguyên tắc như Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào mức tiền lương của người lao động, chỉ quy định mức tiền lương thấp nhất mà Người sử dụng lao động phải trả người lao động; bình đẳng về tiền lương giữa các loại hình doanh nghiệp…

Chương VI quy định rõ các loại mức lương tối thiểu gồm: “Mức lương tối thiểu được xác định theo tháng, ngày, giờ và được xác lập theo vùng, ngành” (Điều 91); quy định các yếu tố xác định mức lương tối thiểu: “nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, điều kiện kinh tế - xã hội và mức tiền lương trên thị trường lao động”(Điều 91).

Đặc biệt, Chương VI bỏ quy định yêu cầu người sử dụng lao động phải đăng ký  thang, bảng lương, thay bằng sao gửi cho cơ quan, tổ chức có liên quan. Thang lương, bản lương, định mức lao động do các doanh nghiệp tự xây dựng và ban hành theo nguyên tắc qui định của Chính phủ.

Một điểm mới trong Chương VI là việc quy định về Hội đồng tiền lương quốc gia: “Hội đồng tiền lương quốc gia là cơ quan tư vấn cho Chính phủ, bao gồm các thành viên là đại diện của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và tổ chức đại diện người sử dụng lao động ở Trung ương” (Khoản 1, Điều 92)

Chương VI làm rõ mức lương làm thêm giờ vào ngày lễ là chưa kể tiền lương ngày lễ, ngày nghỉ có lương đối với người lao động hưởng lương ngày; qui định tăng mức lương làm thêm giờ vào ban đêm: “ Người lao động làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, người lao động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày.” (Khoản 3 Điều 97).

Chương VII. Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

Chương này có 4 mục 14 điều, từ Điều 104 đến Điều 117. Một số điểm mới của chương này là qui định thay đổi cách tính thời giờ làm thêm từ  theo năm sang theo tháng và quy định thời gian làm thêm:

“Điều 106. Làm thêm giờ

1. Làm thêm giờ là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường được quy định trong pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc theo nội quy lao động.

2. Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:

a. Được sự đồng ý của người lao động;

b. Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc chính thức trong 01 ngày, trong trường hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 30 giờ trong 01 tháng và tổng số không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 01 năm;

c. Sau mỗi đợt làm thêm giờ nhiều ngày liên tục trong tháng, người sử dụng lao động phải bố trí để người lao động được nghỉ bù cho số thời gian đã không được nghỉ.”

Chương VII qui định tăng thời gian nghỉ tết cổ truyền từ 4 ngày lên 5 ngày; bổ sung quy định để người lao động được nghỉ trong một số trường hợp cụ thể như bố, mẹ hoặc anh, chị em ruột chết: Người lao động được nghỉ không hưởng lương 01 ngày và phải thông báo với người sử dụng lao động khi ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại hoặc anh, chị, em ruột chết; bố hoặc mẹ kết hôn; anh, chị, em ruột kết hôn (2 Điều 116).

Chương VIII. Kỷ luật Lao động, trách nhiệm vật chất

Những sửa đổi bổ sung của chương này tập trung vào các quy định nâng cao ý thức kỷ luật lao động của người lao động; bảo đảm quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của người sử dụng lao động; quy định rõ trình tự, thủ tục đăng ký nội qui lao động (Điều 120).

Chương VIII bỏ hình thức kỷ luật: chuyển làm công việc khác có mức lương thấp hơn như đánh bạc, cố ý gây thương tích, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ…(Điều 126).

Việc xử lý kỷ luật lao động có ý nghĩa hết sức quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người lao động. Nếu không được qui định chặt chẽ, việc người lao động lạm dụng công cụ xử lý kỷ luật lao động là rất dễ xảy ra. Vi vậy, Chương VIII bổ sung những quy định cấm về xử lý kỷ luật lao động; nguyên tắc xử lý bồi thường thiệt hại.

Chương IX: An toàn lao động, Vệ sinh lao động

Chương này gồm có 3 Mục, 19 Điều.

 Chương IX là chương quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe, an toàn nghề nghiệp của người lao động nên những điểm mới của chương này tập trung vào: việc cải thiện điều kiện an toàn vệ sinh lao động tại nơi làm việc; nâng cao ý thức tuân thủ an toàn lao động của người lao động và người sử dụng lao động; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an toàn lao động, vệ sinh lao động

Chương X. Những quy định riêng đối với lao động nữ (8 điều, từ Điều 157 đến Điều 164)

Điểm mới chủ yếu của Chương này là: đưa ra các quy định nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương và các chế độ khác; pháp điển hoá Nghị định 23-CP ngày 18/4/1996 của Chính phủ qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về những qui định riêng đối với lao động nữ.

Điểm sửa đổi lớn nhất của chương này là nâng thời gian nghỉ thai sản lên 06 tháng. Theo đó Lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con là 06 tháng. Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ 2 trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 1 tháng. Thời gian nghỉ trước khi sinh tối đa không quá 02 tháng” (Khoản 1, Điều 157).

Chương XII. Bảo hiểm xã hội

Chương này chỉ có 2 Điều so với 12 Điều của Luật hiện hành; quy định theo hướng dẫn chiếu Luật Bảo hiểm xã hội.

Điều 187 Qui định về tuổi nghỉ hưu:

1. Người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi.

2. Người lao động bị suy giảm khả năng lao động; làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thuộc danh mục do Chính phủ quy định có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn so với quy định tại khoản 1 Điều này.

 3. Người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 năm so với quy định tại khoản 1 Điều này.

4. Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 và khoản 3 Điều này.”.

Chương XIII. Công đoàn (6 Điều, từ điều 188 đến Điều 193)

Chương XIII quy định vai trò của Công đoàn trong quan hệ lao động; quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn.

Điểm mới đáng chú ý của Chương XIII là việc đưa ra cơ chế bảo vê cán bộ công đoàn thông qua các qui định về quyền của cán bộ công đoàn, việc chấm dứt hợp đồng lao động, các hành vi nghiêm cấm và trách nhiệm của người sử dụng lao động.

Một điểm mới đáng chú ý của Chương VIII là việc qui định vai trò, trách nhiệm của Công đoàn cấp trên cơ có trách nhiệm hỗ trợ công đoàn cơ sở; việc thực hiện trách nhiệm đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên công đoàn, người lao động ở những nơi chưa thành lập tổ chức công đoàn cơ sở.

Chương XIII còn qui định Công đoàn cấp trên cơ sở có quyền và trách nhiệm vận động người lao động gia nhập công đoàn, thành lập công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức; có quyền yêu cầu người sử dụng lao động và cơ quan quản lý nhà nước về lao động địa phương tạo điều kiện và hỗ trợ việc thành lập công đoàn cơ sở.

Chương XIV. Giải quyết tranh chấp lao động (41 điều, từ Điều 194 đến Điều 234)

Chương XIV có một số điểm sửa đổi, bổ sung cơ bản sau:

Bỏ qui định về Hội đồng hoà giải cơ sở, thay bằng Hoà giải viên lao động cấp huyện giải quyết. Điều này xuất phát từ thực tế nhiều doanh nghiệp chưa thành lập được công đoàn thì sẽ không thành lập được Hội đồng hòa giải lao động cơ sở. Mặt khác, nơi có Hội đồng hòa giải lao động cơ sở, thì phần lớn hoạt động không hiệu quả.

Đối với các tranh chấp lao động tập thể về quyền (tranh chấp lao động trong những trường hợp người sử dụng lao động không thực hiện những nghĩa vụ pháp luật qui định đối với tập thể lao động thì tập thể người lao động không được phép đình công, mà phải đâu tranh bằng phương pháp khiếu nại hoặc khiếu kiện theo qui định của pháp luật. Khi có tranh chấp tập thể về quyền, hai bê không tự giải quyết thì yêu cầu cơ quan có thẩm quyền (hòa giải viên cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp huyện hoặc Tòa án để giải quyết, yêu cầu người sử dụng lao động phải thực hiện đúng qui định của pháp luật lao động.

Chương XIV cho phép người sử dụng lao động được tạm thời đóng cửa doanh nghiệp trong quá trình tập thể lao động tiến hành đình công để bảo vệ tài sản của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc tạm thời đóng cửa doanh nghiệp chỉ được phép thực hiện sau thời điểm cuộc đình công bắt đầu, người sử dụng lao động phải trả lương cho người lao động không tham gia đình công, không được đến làm việc và phải mở cửa doanh nghiệp trở lại ngay khi cuộc đình công kết thúc, tập thể lao động trở lại làm việc.

Một điểm mới trong Chương XIV là việc sửa đổi quy trình đình công như thay đổi tỷ lệ người lao động đồng ý đình công…. theo hướng đơn giản hoá trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động; bỏ chủ thể “Đại diện tập thể lao động” ở nơi chưa có công đoàn được quyền lãnh đạo đình công.

Dự kiến, Chính phủ sẽ ban hành 20 Nghị định hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động (sửa đôi) 2012.

                                                      (Theo Website Tổng Liên đoàn)

Các bài mới:
Các bài khác: