Tên: Phạm Văn Phương
Email: vanphuongsc@gmail.com
Tiêu đề: Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Câu hỏi: Tôi làm việc tại một công ty trên địa bàn thị xã Sông công, ngày 5/5/2010 tôi ký hợp đồng lao động có thời hạn 1 năm với công ty; đến ngày 5/5/2011 tôi ký tiếp hợp đồng lao động có thời hạn 1 năm với công ty. Đến ngày 5/5/2013, công ty có thông báo với tôi về việc chấm dứt hợp đồng lao động căn cứ: “- Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty; - Căn cứ Điều 38, 39 về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động.” Công ty cho rằng, công ty gặp khó khăn về kinh tế nên phải cắt giảm lao động và đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với tôi. Trong nội dung thông báo, có nói rằng sau 45 này công ty sẽ thực hiện việc chấm dứt hợp đồng lao động với tôi và trong thời gian này tôi phải nghỉ việc ở nhà (công ty sẽ chi trả số tiền tương đương với 45 ngày làm việc). Công ty làm vậy là đúng hay sai, quyền lợi của tôi được hưởng thế nào.
Trả lời: Dựa trên những nội dung mà Anh cung cấp và quy định của pháp luật lao động chúng tôi có ý kiến trả lời như sau: * Về thời hạn hợp đồng lao động giữa anh và công ty: Hợp đồng lao động giữa anh và công ty ký lần đầu 5/5/2010 là hợp đồng lao động lần thứ 1, hợp đồng lao động ký ngày 5/5/2011 với công ty là hợp đồng lao động lần thứ hai và theo quy định thời hạn hợp đồng sẽ chấm dứt vào ngày 5/5/2012. Thời điểm này chúng ta áp dụng Điều 27 Bộ luật lao động (năm 1994 đã được sửa đổi, bổ sung): Khi hợp đồng lao động có thời hạn hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới, hợp đồng đã giao kết trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Vậy, hợp đồng lao động của công ty với anh là hợp đồng lao động không xác định thời hạn. * Về lý do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của công ty với anh có thể đưa ra những nhận định sau: - Thứ nhất, Về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của công ty với anh: Theo quy định tại Điều 38 Bộ luật lao động công ty có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với anh. - Thứ hai, về lý do chấm dứt hợp đồng lao động. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động thì phải thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 38 Bộ luật lao động và thực hiện thời gian báo trước theo khoản 2 Điều 38 Bộ luật lao động 2012. Trong trường hợp vì lý do kinh tế mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc thì người sử dụng lao động phải thực hiện đúng và đầy đủ các quy định tại Điều 44, 46, 49 Bộ luật lao động 2012. Chính vì vậy, công ty đưa ra lý do kinh tế để chấm dứt hợp đồng lao động với anh và chưa thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định của pháp luật là đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái quy định của pháp luật (theo quy định tại Điều 41 Bộ luật lao động 2012). *Về quyền lợi: Khi công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với anh, công ty có trách nhiệm thực hiện quy định tại Điều 42 Bộ luật lao động 2012: “1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động. 2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này. 3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động. 4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động. 5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.” * Về phương án giải quyết vụ việc: Thứ nhất, Anh có quyền được kiến nghị với công ty về các quyền lợi hợp pháp mà anh được hưởng theo các quy định của pháp luật dựa trên các nội dung mà tôi đã phân tích nêu trên; Thứ hai, Anh có quyền nhờ công đoàn cơ sở và công đoàn cấp trên cơ sở nơi anh làm việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; Thứ ba, Anh có thể nhờ hòa giải viên lao động của thị xã sông công hòa giải hoặc có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền để giải quyết vụ việc. TTTVPL
Tên: Nguyễn Như Phượng
Email: nhuphuong123@yahoo.com
Tiêu đề: chế độ thai sản
Câu hỏi: “Chúng tôi là giáo viên phổ thông đã vào biên chế và đóng BHXH bắt buộc được trên một năm, hiện đang mang thai, dự kiến đúng vào dịp nghỉ hè là ngày 10 tháng 6 năm 2012 tôi sinh con. Xin được hỏi: Tôi có được nghỉ gộp cả 2 tháng hè và 4 tháng thai sản không?
Trả lời: Thời gian nghỉ ngơi trong một năm của giáo viên giảng dạy tại các cơ sở giáo dục phổ thông được quy định tại Khoản 3, Điều 5 Quy định chế độ làm việc đối với giáo viên phổ thông, ban hành kèm theo Thông tư số 28/2009/TT-BGDĐT ngày 21/10/2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Theo quy định, thời gian nghỉ hằng năm của giáo viên gồm: nghỉ hè, nghỉ tết âm lịch, nghỉ học kỳ và các ngày nghỉ khác: - Thời gian nghỉ hè của giáo viên thay cho nghỉ phép hằng năm là 2 tháng, được hưởng nguyên lương và các phụ cấp (nếu có); - Thời gian nghỉ tết âm lịch, nghỉ học kỳ theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; - Các ngày nghỉ khác theo quy định của Bộ Luật lao động. Căn cứ kế hoạch năm học, quy mô, đặc điểm, điều kiện cụ thể của từng trường, Hiệu trưởng bố trí thời gian nghỉ hằng năm cho giáo viên một cách hợp lý theo đúng quy định. Chế độ thai sản Theo quy định của Bảo hiểm xã hội: Điều 31 ( Luật BHXH). Thời gian hưởng chế độ sinh con Theo quy định tại điểm a, khoản 1; khoản 4 Điều 31 và Điều 35 Luật Bảo hiểm xã hội thì lao động nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản 4 tháng, nếu làm nghề hoặc công việc trong điều kiện lao động bình thường. Thời gian hưởng chế độ thai sản tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần. Mức hưởng bằng 100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc. Điều 31. Thời gian hưởng chế độ khi sinh con 1. Lao động nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định sau đây: a) Bốn tháng, nếu làm nghề hoặc công việc trong điều kiện lao động bình thường; b) Năm tháng, nếu làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành; làm việc theo chế độ ba ca; làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên hoặc là nữ quân nhân, nữ công an nhân dân; c) Sáu tháng đối với lao động nữ là người tàn tật theo quy định của pháp luật về người tàn tật; d) Trường hợp sinh đôi trở lên, ngoài thời gian nghỉ việc quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con được nghỉ thêm ba mươi ngày. 2. Trường hợp sau khi sinh con, nếu con dưới sáu mươi ngày tuổi bị chết thì mẹ được nghỉ việc chín mươi ngày tính từ ngày sinh con; nếu con từ sáu mươi ngày tuổi trở lên bị chết thì mẹ được nghỉ việc ba mươi ngày tính từ ngày con chết, nhưng thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản không vượt quá thời gian quy định tại khoản 1 Điều này; thời gian này không tính vào thời gian nghỉ việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động. 3. Trường hợp chỉ có cha hoặc mẹ tham gia bảo hiểm xã hội hoặc cả cha và mẹ đều tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ bốn tháng tuổi. 4. Thời gian hưởng chế độ thai sản quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần. Điều 35. Mức hưởng chế độ thai sản 1. Người lao động hưởng chế độ thai sản theo quy định tại các điều 29, 30, 31, 32 và 33 của Luật này thì mức hưởng bằng 100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của sáu tháng liền kề trước khi nghỉ việc. 2. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội. Thời gian này người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng bảo hiểm xã hội. Cụ thể vấn đề bạn hỏi: Chế độ nghỉ hè thay cho nghỉ phép đối với giáo viên tại các cơ sở giáo dục phổ thông thường được thực hiện sau khi kết thúc năm học vào khoảng thời gian từ ngày 1/6 đến ngày 31/8 hàng năm. Nhưng trùng vào thời gian nghỉ hè thay cho nghỉ phép thì bạn sinh con và hưởng chế độ thai sản do cơ quan Bảo hiểm xã hội chi trả. Vì vậy bạn có thể đề nghị hiệu trưởng nhà trường bố trí cho bạn nghỉ phép trước khi nghỉ thai sản hoặc lùi thời gian nghỉ phép sau khi nghỉ thai sản. Vì Theo quy định tại khoản 4 Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội qui định: “thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ tết, ngày nghỉ hàng tuần”, không bao gồm những ngày nghỉ phép (nghỉ hè) của giáo viên phổ thông. Trường hợp do yêu cầu công tác giảng dạy mà nhà trường không bố trí được thời gian cho bạn nghỉ phép hoặc không bố trí đủ số ngày nghỉ phép năm, thì: Căn cứ quy định tại điểm b, khoản 1 và điểm c khoản 2 Điều 5 Thông tư số 141/2011/TT-BTC - ngày 20/10/2011 của Bộ Tài chính, căn cứ khả năng nguồn kinh phí, căn cứ tổng số ngày chưa nghỉ phép năm của bạn, Hiệu trưởng sẽ quyết định hỗ trợ tiền bồi dưỡng cho bạn. Mức chi hỗ trợ được quy định tại quy chế chi tiêu nội bộ của nhà trường, nhưng tối đa không quá mức tiền lương làm thêm giờ vào ngày thứ bảy, chủ nhật theo quy định hiện hành.
Tên: Lữ Văn Bình
Email: congtyhht@gmail.com
Tiêu đề: Chế độ bảo hiểm
Câu hỏi: Tôi làm việc tại một công ty cổ phần tại thị xã Sông Công tỉnh Thái Nguyên đã được 6 năm. Vào tháng 3 năm 2011 tôi bị tai nạn lao động khi đang làm việc. Sau hai tháng đã điều trị ổn định thương tật và bệnh viện cho về nhà. Xin hỏi: 1.Chi phí điều trị thương tật cho tôi do ai chịu? 2.Tôi có được hưởng lương trong những ngày điều trị không?
Trả lời: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 107 Bộ luật lao động: “2- Người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị xong cho người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. Người lao động được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Nếu doanh nghiệp chưa tham gia loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc, thì người sử dụng lao động phải trả cho người lao động một khoản tiền ngang với mức quy định trong Điều lệ bảo hiểm xã hội.” Khoản 1 Điều 143 Bộ luật lao động: “Điều 143 1- Trong thời gian người lao động nghỉ việc để chữa trị vì tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, người sử dụng lao động phải trả đủ lương và chi phí cho người lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 107 của Bộ luật này. Sau khi điều trị, tuỳ theo mức độ suy giảm khả năng lao động do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, người lao động được giám định và xếp hạng thương tật để hưởng trợ cấp một lần hoặc hàng tháng do quỹ bảo hiểm xã hội trả.” Vậy, người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị xong cho người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. Trong thời gian người lao động nghỉ việc để chữa trị vì tai nạn lao động người sử dụng lao động phải trả đủ lương và chi phí cho người lao động. Ngoài ra, sau khi điều trị ổn định thương tật và đã đi giám định sức khỏe bạn còn được hưởng trợ cấp một lần hoặc trợ cấp hàng tháng do quỹ bảo hiểm xã hội chi trả theo quy định của pháp luật.
Tên: Phạm Hải Hòa
Email: mninha@gmail.com
Tiêu đề: Phụ cấp độc hại
Câu hỏi: Tôi là lái xe tại một công ty cổ phần thuộc thành phố Thái nguyên. Xin hỏi: đối với người điều khiển xe ô tô có giấy phép lái xe hạng Fc; lái xe trọng tải 20 tấn, có được hưởng chế độ phụ cấp độc hại không?
Trả lời: Theo quy định tại điểm b tiết 1, tiết 2 Thông tư số 28 /2007/TT-BLĐTBXH ngày 05 tháng 12 năm 2007 Sửa đổi Thông tư số 13/2003/TT-BLĐTBXH và Thông tư số 14/2003/TT-BLĐTBXH ngày 30 tháng 5 năm 2003 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 114/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Chính phủ về tiền lương: “b) Việc xây dựng thang lương, bảng lương phải bảo đảm nguyên tắc quy định tại khoản 1, Điều 5 Nghị định số 114/2002/NĐ-CP, trong đó: - Mức lương của nghề, công việc độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt độc hại, nguy hiểm phải cao hơn ít nhất 5% so với mức lương của nghề, công việc có điều kiện lao động bình thường. Danh mục nghề, công việc độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt độc hại, nguy hiểm thực hiện theo quy định của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.” “2/ Phụ cấp lương Doanh nghiệp được quyền quy định các khoản phụ cấp lương hoặc áp dụng các chế độ phụ cấp lương do Chính phủ quy định đối với các công ty nhà nước để thu hút hoặc khuyến khích người lao động làm nghề, công việc đòi hỏi trách nhiệm cao hơn hoặc trong điều kiện, môi trường lao động độc hại, nguy hiểm hơn nhưng chưa được xác định trong các mức lương của thang lương, bảng lương do doanh nghiệp xây dựng. Doanh nghiệp đăng ký các khoản phụ cấp lương cùng hệ thống thang lương, bảng lương của doanh nghiệp với cơ quan quản lý nhà nước về lao động tại địa phương.” Và theo quy định tại mục V danh mục nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm (Ban hành kèm theo Quyết định số: 1453/LĐTBXH- QĐ ngày 13 tháng 10 năm 1995): “Lái xe vận tải, có trọng tải 20 tấn trở lên có đặc điểm về điều kiện lao động của nghề, công việc là Công việc nặng nhọc, nguy hiểm, ảnh hưởng của bụi, rung và ồn cao.” Vậy, Trường hợp bạn hỏi được hưởng chế độ phụ cấp độc hại và người sử dụng lao động cần quy định chế độ phụ cấp độc hại này vào thang, bảng lương của doanh nghiệp.
Tên: Nguyễn Trung Hiếu
Email: nth22@gmail.com
Tiêu đề: Bảo hiểm xã hội
Câu hỏi: Công ty chúng tôi có ký hợp đồng lao động 2 năm với hai nhân viên phục vụ cho một doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Thái Nguyên. Do nhu cầu công việc nên thời gian làm việc của những nhân viên này là 1 buổi (4 giờ/ngày, lương 1.900.000đ/tháng). Chúng tôi xin hỏi: theo quy định của pháp luật chúng tôi có thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm y tế không?
Trả lời: Theo quy định tại Điều 141 Bộ luật lao động (đã sửa đổi, bổ sung năm 2002) điểm a khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006: “Điều 2. Đối tượng áp dụng 1. Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là công dân Việt Nam, bao gồm: a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên;” Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Bảo hiểm y tế năm 2009: “Điều 12. Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế 1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên theo quy định của pháp luật về lao động; người lao động là người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương, tiền công theo quy định của pháp luật về tiền lương, tiền công; cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là người lao động).” Vậy, trường hợp bạn hỏi thì người sử dụng lao động có trách nhiệm tham gia bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế cho họ. Vì người sử dụng lao động đã ký hợp đồng lao động có thời hạn là 2 năm với người lao động còn thỏa thuận về thời gian làm việc 4 giờ/ngày trong hợp đồng lao động không ảnh hưởng đến việc tham gia bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế cho người lao động.